Wednesday, 12/08/2020 - 19:20|
Học sáng tạo, trải nghiệm - Sống trách nhiệm, yêu thương!
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

CHÍ SĨ NGUYỄN QUANg DIÊU TỪ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC CHÂN CHÍNH ĐẾN VỚI XU HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Ths.Trần Văn Chính, tổ trưởng Tổ Sử - Địa - GDCD
1.Tình hình thế giới ảnh hưởng đến Việt Nam
     Với sự đầu hàng của Nhà Nguyễn, thực dân Pháp biến Việt Nam thành một nước thuộc địa nửa phong kiến lệ thuộc vào chính quốc. Việt Nam chịu sự tác động của tình hình thế giới bên ngoài hơn bao giờ hết.
     Trước hết phải nói đến phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc, chống lại  nguy cơ xâm lược của các thế lực phương Tây, vốn là nước có quan hệ gần gũi với Việt Nam. Các phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc phát triển sôi nổi, đòi duy tân cải cách đất nước, tiêu biểu là cuộc vận động Duy tân Mậu Tuất (1898) do hai nhà nho yêu nước Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, ảnh hưởng của cách mạng Tân Hợi (1911) của Tôn Trung Sơn với “Chủ nghĩa tam dân”, “Dân tộc độc lập”; “Dân quyền tự do”, “Dân sinh hạnh phúc”…trào lưu triết học Ánh sáng ở Pháp của Ru- xô, Vônte, Mông - te - xki –ơ , được coi là phát súng dọn đường cho cách mạng tư sản Pháp bùng nổ thắng lợi,  được dịch sang chữ Hán du nhập vào nước ta. 
     Sự kiện gây ảnh hưởng lớn đến Việt Nam đầu thế kỷ XX, là sự thắng lợi của công cuộc Minh Trị duy tân tại Nhật Bản (1868), tác phẩm “ Nhật Bản tam thập niên duy tân sử’’. Chỉ  sau 30 năm cải cách Nhật Bản đã trở cường quốc công nghiệp hùng mạnh ở châu Á, đánh thắng cả nước Nga Sa hoàng năm 1905. Hơn nữa Nhật Bản lại được coi là nước “ đồng chủng, đồng văn, đồng bệnh” có thể dựa vào Nhật để đánh đuổi thực dân Pháp.
        Chính làn sóng tân thư, tân văn, tức là các sách vở mang nội dung tư tưởng chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản và văn minh phương Tây, chủ yếu là các sách viết bằng chữ Hán, theo “ mưa Âu gió Mỹ” tràn vào Việt Nam tạo nên sự phân hóa đổi mới về tư tưởng.

2. Tình hình trong nước.
       Cuối thế kỷ XIX, dân ta  đứng trước một thử thách ghê gớm là phải đấu tranh với sự xâm lược của đế quốc Pháp, tiêu biểu cho một nền sản xuất tiên tiến, có trình độ khoa học kỹ thuật cao, một kẻ thù hoàn toàn khác trước.
      Đứng trước nguy cơ mất nước đã xuất hiện đã xuất hiện những tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch … đã đệ trình những bản điều trần canh tân đất nước của họ gởi lên nhà vua Tự Đức,  chứa đựng lòng yêu nước thương dân rất nhiệt thành, những tư tưởng tiến bộ trên nhiều lĩnh vực như xây dựng phát triển kinh tế, phát triển công, thương nghiệp, tư tưởng, nâng cao dân trí,  mở mang dân chủ  tiến bộ, nhưng không được nhà vua tiếp nhận.
      Sự bảo thủ của vua, quan triều đình là nguyên nhân chính đẩy nước ta vào tay giặc. Trật tự xã hội phong kiến, chế độ cực quyền của nhà vua, sự xa cách giữa triều đình với nhân dân trở thành những chứng ngại cho sự phát triển đất nước.
    Sau  công cuộc bình định  nhất là từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, đã tác động đến xã hội phân hóa sâu sắc hơn, bên cạnh hai giai cấp địa chủ và nông dân đã xuất hiện 1 số tầng lớp,  giai cấp mới:  tư sản, tiểu tư sản, công nhân, thân phận địa vị kinh tế chính trị khác nhau, khả năng cách mạng cũng khác nhau. Đối với giai cấp phong kiến địa chủ. Đại bộ phận giai cấp nầy đã bất lực thỏa hiệp đầu hàng, trở thành công cụ của thực dân Pháp. Tuy vậy, có một số không nhỏ bất lực hợp tác, quay lưng lại với thực tế, bị quan yếu thế. Cũng có người trong số họ do hoàn cảnh bắt buộc phải ra làm quan, nhưng để chờ thời hoặc che mắt thiên hạ. Khi bị bức bách họ sẵn sàng cáo quan. Đây là lớp người có tinh thần yêu nước, thông cảm với nổi nhục mất nước của  nhân dân, nhưng bất lực.Trong số họ có một số “ trung thành “ với lý tưởng phong kiến, khướt từ mọi sự thay đổi về  tư tưởng và xã hội. Xuất thân từ nho học,  một số tầng lớp trí thức, văn thân thân tiến bộ.
        Họ thấy được sự hạn chế bất lực những giá trị văn minh phong kiến, sự thống nhất quyền lợi của dân tộc với quyền lợi của giai tầng, nhờ sớm tiếp thu thu những tư tưởng tiến bộ trong những tân thư, tân  văn họ sớm hướng tới những giá trị văn minh mới. Lớp người nho sĩ tiến  bộ nầy họ đã biết chọn lọc tiếp tục truyền thống yêu nước tốt đẹp của dân tộc, không ngại tiếp thu những bài học canh tân đất nước trong khu vực và thế giới. Họ đã kiên trì bền bỉ trong hoạt động để đưa những tư tưởng mới mẽ  nầy đến với nhân dân. Tuy có những hạn chế về lịch sử, về thời đại nhưng họ thực sự là những người tiên phong và là cầu nối cho sự chuyển đổi, tìm hướng đi lên của dân tộc. Họ có một vị trí xứng đáng không thể thay thế cho bước tiến bộ của tư tưởng dân chủ. Những nhân vật tiêu biểu cho phong  trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX là chí sĩ  Phan bội Châu, chí sĩ  Phan Châu Trinh và tiêu biếu cho phong trào yêu nước ở Nam kỳ là chí sĩ Nguyễn Quang Diêu, là những người đứng trong tầng lớp nầy.

3. Phong trào Đông Du ở Việt Nam và Nam kỳ.
     a. Nói tới phong trào Đông Du ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX,  đầu thế kỷ XX là nói đến linh hồn của phong trào Đông Du là cụ Phan Bội Châu, lúc đầu Cụ Phan chủ trương thành lập một nước Việt Nam quân Chủ lập Hiến, như vậy Cường Để trên danh nghĩa là được tôn làm minh chủ Duy Tân như thực chất trong trào  nầy Cường Đề chỉ là thứ yếu, cụ Phan mới là người khỏi xướng và lãnh đạo, hơn nữa trong quá trình hoạt, cụ Phan  lại chuyển từ lập trường Quân chủ lập hiến theo kiểu Nhật, lại chủ sang lập trường Dân chủ Cộng hòa theo kiểu Pháp, cụ Phan  chuyển sang chủ trương “Pháp - Việt đề huề”  trong thời gian nầy nhiều người cho rằng: “ Cụ  đã thay ngựa giữa dòng”  như thực chất của vấn đế là  qua thực tiễn hoạt động với tinh thần yêu nước thương dân sâu sắc, cụ Phan đã thấy được bản chất của quân phiệt Nhật, trước sau gì nước nầy sẽ gây nên tai họa cho nhân loại  nhất là đối với nhân dân châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có nhân dân Việt Nam, gần cuối đời hoạt động cụ Phan có lúc muốn gặp và trao đổi với Nguyễn Ái Quốc về việc  tìm con đường cứu nước, cứu dân, lúc nầy cụ lại chịu ảnh hường của cách mạng tháng mười Nga năm 1917, cụ Phan từ lập trường Dân chủ công hòa,  cụ Phan lại chuyển sang một lập trường yêu nước tiến bộ và tích cực hơn đó là theo xu hướng xã hội chủ nghĩa, điều đó thể hiện rỏ trong việc làm của cụ  Phan Bội Châu lúc cuối đời, cụ Phan viết tác phẩm về  Cách mạng tháng Mười Nga 1917.

b. Phong trào Đông Du ở Nam Kỳ.
         Đến đầu năm 1907, phong Đông Du phát triển mạnh trong cả nước và nhanh chóng lan rộng ở  các tỉnh Tây Nam kỳ, đã có nhiều chí sĩ tham gia như  Nguyễn An Khương, Trần Chánh Chiếu,  Nguyễn Thần Hiến… , đây   là những nhà hoạt động yêu nước bấy giờ.
          Ngay từ lúc còn ngồi trong ghế nhà trường, Nguyễn Quang Diêu thường quan tâm đến tình chính trị trong và ngoài nước, lúc bấy giờ tìm cách liên lạc với Nguyễn Thần Hiến và những nhà hoạt động yêu nước ở Nam Kỳ. Là một môn  đồ Nho học, vượt qua những khuôn khổ quan niệm  khắc khe của trật tự phong kiến ràng buộc,  Nguyễn  Quang Diêu vấn thân vào con cách mạng,  theo con đường mà Phan Bội Châu đã vạch sẵn  tức là theo con đường cách mạng dân chủ tư sản.
         Cũng vào năm 1907 Nguyễn Quang Diêu bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng trong phong Đông Du ở Miền Nam,  như tiếp tay với cụ Nguyễn Thần  Hiến trong việc khuyến học, để cổ vũ phong trào Đông Du, được nhiều người hưởng ứng hoạt động, có những người trở thành thân tín với Nguyễn Quang Diêu tiêu biểu như Lưu Quang Bật.
        Điều đáng nói ở đây trong  năm 1907, tổng số sinh viên sang học ở Nhật tính được 115 người, mà ở miền Nam chiếm tới 75 người (Bắc 30 người, Trung 10 người), điều đó phản ánh phần nào, sự hoạt động tích cực và mạnh mẽ của các nhà ái quốc miền Nam, phong trào Đông Du ở Nam kỳ lúc bấy giờ phát triền mạnh, do đó cách mạng cần phải có đông cán bộ để vận động giáo dục, quyên góp tiền bạc gởi đi tiếp tế là cần thiết, trước yêu cầu phát triển của cách mạng - là phải xuất Dương tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi gong cùng của thực dân Pháp, có cuộc sống ấm no hạnh phúc, Nguyễn Quang Diêu rời trường học, cái học từ chương không cứu nổi nước, với dân.
       Nguyễn Quang Diêu là một nhà nho tiến bộ, một người yêu nước thương dân, gần gũi gắn bó với những người lao động nghèo, khướt từ “ tư tưởng trung quân ái quốc”, chuyển sang yêu nước, gắn liền với thương dân.
Trong bối cảnh mất nước, cụ Nguyễn Quang Diêu sớm nhận ra sự bất lực của triều đình Nguyễn – Nguyễn Ánh trong việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng  cấp bách là cứu  nước cứu dân và sau thất bại của phong trào Cần vương và các phong trào yêu nước khác … Tuy có những hạn chế về lịch sử, về thời đại nhưng cụ  thực sự là những người tiên phong và là cầu nối cho sự chuyển đổi, tìm hướng đi lên của dân tộc.      
     
Nguyễn Quang Diêu không chỉ là một chiến sĩ cách mạng mà ông còn là một nhà thơ, với những đóng góp không nhỏ cho nền văn học Việt Nam thời cận đại. Phần lớn các bài thơ của cụ làm đều khí khái, mang nặng tình yêu nước tha thiết, một hạt nhân nồng cốt trong phong yêu nước – phong trào  Đông Du ở Nam kỳ, không kém gì các bài thơ của Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu. Nhắc đến cụ, người dân Cao Lãnh thường nhớ tới bài thơ sau đây:
                                     
                                    Chó chết hết chuyện
                                    Muôn vật đều còn để dấu roi,
                                    Buồn cười thân chó chết rồi thôi,
                                    Ân- cần mãn kiếp ba ơn mọn,
                                    Thỏa - mạ ngàn năm một tiếng đời,
                                    Nội trống gặp hùm, xua hắn đuổi,
                                    Hang sâu hết thỏ nấu chàng xơi
                                    Ai ơi! Phải biết người hơn vật,
                                    Chớ để mày râu thẹn đất trời,
                                                               (Trần Quang Hạo, Cao Lãnh, tr 105)
         
Qua đó chúng ta thấy Chí sĩ  Nguyễn Quang Diêu đã từ chủ nghĩa yêu nước,  thông qua thực tiễn hoạt động cách mạng ở trong nước,  ngoài nước và sự nghiệp thơ văn của cụ, chúng ta có thể  khẳng định cụ đã từ chủ nghĩa yêu nước chính đã đến xu hướng cứu nước tiên tiến của thời đại  bấy giờ - xu hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ  đã tích cực  hoạt động cách mạng  với hoài bảo thiêng liêng cao đẹp là không chỉ đấu tranh cho nước được độc lập, tự do mà ở còn làm dân chúng được ấm no hạnh phúc.  Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu  đã hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc,  suốt cuộc đời hoạt động cách mạng một lòng vì dân vì nước.
                                                                                        
 
           -----------------------------
                                                                                                 
* Một số tài liệu tham khảo:
   1. Nguyễn Văn Hầu (1964), Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu - một lãnh tụ trọng yếu trong phong trào Đông Du Miền Nam, Nxb Trẻ.
2.     Hội khoa học Lịch sử Đồng Tháp (2004), Đồng Tháp 300 năm, Nxb Trẻ.
3.     Ban Tuyên giáo tỉnh Đồng Tháp và Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Đồng Tháp.
4.     Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Đồng Tháp (2002), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nhà nho yêu nước Nguyễn Quang Diêu.
5.     Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế (2005), Việt Nam - 100 năm phong trào Đông Du và hợp tác Việt – Nhật để bảo tồn, phát triển di sản văn hóa Huế.
6.     Trần Văn Giàu (* ) Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam.
7.     Trần Quang Hạo (1964 ), Cao Lãnh.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Tìm kiếm